Thông Tin Bên Lề

Nhạc xuân

Tháng Thánh Giuse

HÃY KẾT BẠN VỚI

Ảnh

Liên kết web

VIDEO GIÁO XỨ

CHA QUẢN XỨ

HÃY NHANH TAY

1
GIÁO XỨ LÀNG RÀO

Magazine

Smoke

Natural

Feature

Video News

Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau:




Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vây ? 

Câu trả lời của thiếu nữ này thật là thâm thúy. “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta.  Ngài là người 'quân tử' nên đã lẳng lặng rút lui. 
 Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình? 

Về những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh ..., tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường học nữa. Và chúng ta đã đồng ý. 

Rồi lại một người khác lại có ý  kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, cũng chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta:  'Chớ giết người, chớ trộm cắp, yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, v.v.', và chúng ta cũng đã đồng ý. 

Sau đó bác sĩ Benjamin Spock lại nói là chúng ta không được đánh con cái mình khi chúng làm gì xấu, vì chúng ta có thể làm sai lệch nhân cách bé nhỏ của chúng và làm cho chúng không biết tự quý trọng bản thân mình nữa. Con trai của chính vị bác sĩ ấy khốn thay đã tự tử. Người ta lại nói rằng một chuyên viên chắc chắn phải biết mình nói gì, còn ông ấy nói với chúng ta điều gì thì chẳng quan trọng, và chúng ta cũng đồng ý luôn. 

Bây giờ chúng ta lại tự hỏi là tại sao con chúng ta lại không có lương tâm, tại sao chúng không phân biệt được thiện ác, và tại sao chúng ta có thể nhẫn tâm giết chết một người lạ, một người thân hay chính mình.
Có thế sau khi suy nghĩ chín chắn, chúng ta đi đến kết luận: chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy. 

Thật kỳ lạ là con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới biến thành địa ngục. 

Thật kỳ lạ là chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh nói.

Thật kỳ lạ là chúng ta gửi cho nhau những chuyện vui cười qua email và chúng được truyền đi tiếp như lửa rơm, nhưng khi gửi những thông điệp về Thiên Chúa thì chúng ta lại đắn đo suy nghĩ trước khi gửi đi tiếp. 

Thật kỳ lạ là khi bạn gửi đi thông điệp này, có thể bạn không gửi đi cho nhiều người lắm trong danh sách của bạn, vì bạn không biết họ có tin Chúa không hoặc họ sẽ nghĩ gì về bạn.
Thật kì lạ khi chúng ta lại lo sợ người đời nghĩ sao về chúng ta hơn là những gì Thiên Chúa nghĩ về chúng ta. 

“Anh em thân mến, nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4, 11).


1- Lại một Noel nữa
Mùa Giáng sinh sắp về, mọi người nhất là các Kitô hữu bắt đầu rộn ràng mừng Chúa Giáng Sinh. Hàng năm giáo hội dành cả Mùa Vọng để giúp Kitô hữu dọn mình mừng Chúa Giáng sinh. Ngày nay, nói đến Noel là cả người giáo lẫn lương đều nghĩ ngay tới hang đá, máng cỏ, đèn sao, nghĩ  tới các nhân vật trong hang đá là Chúa Hài đồng Giêsu, thánh Giuse, đức Maria, các Thiên thần, các mục đồng và chiên bò lừa…Nhất là từ ngày đất nước mở cửa cho thế giới, việc mừng lễ Noel được tự do, khắp nơi đã sáng kiến nhiều cách tổ chức mừng lễ: văn nghệ giáng sinh, hoạt cảnh giáng sinh, canh thức giáng sinh, diễn nguyện giáng sinh…phụ họa theo còn có ca múa tân nhạc giáng sinh, ca cải lương giáng sinh… Gần đây còn đổi mới hang đá ở nhà thờ vừa hoành tráng vừa sáng sủa với các thứ đèn điện tử nhấp nháy. Có xứ nhà giáo dân nào cũng đua nhau làm hang đá máng cỏ đủ kiểu gọi là để truyền bá lễ giáng sinh cho những người chưa biết Chúa… Thật là trăm hoa đua nở. Song song với những tổ chức long trọng bề ngoài, cũng có những tổ chức sửa soạn tâm hồn, giúp hiểu biết ý nghĩa và chủ đích của lễ Noel mỗi ngày sâu sắc hơn; còn có những tổ chức lạc quyên quần áo, chuẩn bị các phần quà giáng sinh để chia sẻ cho trẻ em và người nghèo bệnh tật, già yếu, cô đơn…
Đặc biệt vào cuối năm 2013, Thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam đã kêu gọi: “Công cuộc Tân Phúc âm hóa đòi hỏi duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi bình diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ” (số 4). Và đức tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam, trong một bài nói chuyện ngày 07-11-2013 có “đề ra vài dấu nhấn khái quát” và rất thiết thực về điều mà từ lâu đã được nói đến, là “giáo hội Việt Nam phải là giáo hội của người nghèo, cho người nghèo; là giáo hội của mọi người và cho mọi người; là giáo hội dấn thân Tân Phúc Âm Hóa”.
Noel năm nay 2014, là cơ hội thuận tiện để mọi Kitô hữu Việt Nam “duyệt lại xem” mình đã tổ chức mừng Chúa Giáng Sinh có đúng với ý nghĩa và chủ đích của Chúa và Giáo Hội không, có đúng với định hướng Tân Phúc Âm Hóa không.
2- Ý nghĩa và chủ đích của việc mừng Chúa Giáng Sinh
Công cụ tìm kiếm thông tin Google đặt câu hỏi: “có phải mọi người đều hiểu rõ ý nghĩa của hang đá Belem, của đèn sao, và những tượng đặt trong đó không?” Rồi Google tóm tắt nguồn gốc và ý nghĩa lễ Noel:
– Về ý nghĩa: lễ Noel là lễ mừng Chúa Giáng Sinh, nhưng chỉ mừng từ năm 354, sau công nguyên, khi đức giáo hoàng Libêriô công bố chọn ngày 25 – 12  là ngày chính thức giáo hội mừng Chúa Giáng Sinh – chữ Noel là chữ thu gọn từ chữ Emmanuel, có nghĩa là “Chúa ở cùng chúng ta”. Trong lễ Noel mọi người đều hướng về Chúa nhân từ, cầu nguyện Chúa cứu rỗi cho nhân loại khỏi chiến tranh, nghèo đói, bất hạnh.
- Về hang đá Belem: năm 1223 khi thánh Phanxicô từ Rôma về Atxidi quê ngài, để mừng lễ Noel, ngài gặp một thầy tập tu và nói với thầy: “để thể hiện nỗi cơ cực và khổ đau của Chúa ngay từ lúc còn thơ để cứu chuộc nhân loại, ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô, rồi con dẫn một con lừa và một con bò vào để cho giống với con bò con lừa đã chầu quanh Chúa Hài đồng năm xưa nhé!” Từ đó mừng lễ Noel là có hang đá, máng cỏ, bò lừa.
… Google chỉ tóm lược có thế.
Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm, nhiều người đã dựa vào các Phúc Âm và truyền thống của giáo hội để tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa và chủ đích của lễ Noel. Có người cho rằng biến cố Noel là một biến cố lịch sử, mà nói đến lịch sử là nói đến quá khứ. Noel là một cú sốc rất lớn trong lịch sử đã bất thần xảy ra cách đây hơn 20 thế kỷ một cách khiêm tốn. Nó như một cuộc cách mạng lớn trong một thinh lặng lớn. Lý do thật là đơn giản: Noel nói lên tất cả tình yêu của một Thiên Chúa yêu say mê con người, đã sáng tạo con người; nhưng con người không vâng phục Thiên Chúa, họ đã chọn sống tự do theo bản năng của mình, theo luật rừng… Thiên Chúa vẫn duy trì tình yêu đó đối với con người, là tôn trọng tự do của con người, và Thiên Chúa tự xóa mình trước sự kiêu căng của con người, để xuống thế làm người cứu rỗi con người. Nhưng Noel không phải chỉ là biến cố thuộc quá khứ, Noel là biến cố của hiện tại, hay nói đúng hơn Noel thuộc quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì thế ta có thể nói Chúa đã giáng sinh, Chúa đang giáng sinh và Chúa sẽ giáng sinh. Bởi lẽ Chúa giáng sinh là giáng sinh trong tâm hồn những con người sẵn sàng đón tiếp Chúa, nó luôn gắn liền với lịch sử mỗi con người, nó kéo dài và hoàn thành trong lịch sử mỗi người. Cú sốc đã xẩy ra trong suốt hơn 20 thế kỷ qua, cũng là cú sốc đang xẩy ra cho mỗi người trong hiện tại hôm nay và cũng sẽ là cú sốc cho mọi người thuộc các thế hệ tương lai.
Đi sâu hơn nữa có người hỏi cú sốc Noel là gì? Nó cốt tại cái gì? Có người coi nó là một cuộc kết hôn: cuộc kết hôn giữa Thiên Chúa sáng tạo và con người là thụ tạo. Chúa Kitô là Thiên Chúa đã giáng sinh làm người, có trái tim để yêu thương, và Người dùng trái tim yêu thương vừa để mặc khải cho con người rằng Thiên Chúa là tình yêu, vừa để thực hiện lòng thương xót của Thiên Chúa muốn cứu rỗi con người. Đây là cuộc kết hôn vượt trên sức tưởng tượng của con người, bởi nó là cuộc kết hôn không tương xứng, không “môn đăng hộ đối” giữa đôi bên. Hơn thế, Thiên Chúa còn thực hiện cuộc hôn nhân này trong tôn trong tự do của con người.
Trước hết đối với Đức Maria, Thiên Chúa sai sứ thần ngỏ lời “hỏi” đức Maria, và chờ lời ưng thuận “xin vâng” của đức Maria rồi mới tiến hành cuộc nhập thể làm người trong lòng đức Trinh nữ. Sau là đối với mỗi người chúng ta, Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của chúng ta như vậy. Chúa Thánh Thần sẽ đến gõ cửa mỗi người để hỏi: “Bạn có thể cho Con Thiên Chúa đến ở cùng với bạn không?” (Emmnuel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Và mỗi người chúng ta có thể trả lời có hoặc không, ngoài ra không còn cách nào khác.
Trả lời có là mở cửa mời Chúa đến ở cùng, Chúa sẽ biến đổi bạn thành con Thiên Chúa, và bạn sẽ cùng với mọi người con Thiên Chúa trở thành anh chị em với nhau con một Cha trên trời, cùng chung hưởng hạnh phúc với nhau trong yêu mến, cảm thương nhau.
Trả lời không là từ chối, không muốn có Chúa ở cùng, vì nhà bạn đã chứa đầy thần tượng, bạn sợ mất tự do phóng túng, mất chỗ làm sang làm giàu, bạn sẽ không có được niềm vui giáng sinh như các mục đồng, bạn có thể còn muốn diệt Chúa đi như có người đã giết chết các hài nhi ở Belem, dịp Chúa giáng sinh.
Như vậy ta hiểu được cốt lõi của ý nghĩa và chủ đích của lễ Noel. Noel là một cú sốc, một biến cố xảy ra trong lịch sử loài người, Noel như là cuộc kết hôn giữa Thiên Chúa với con người. Cuộc kết hôn khởi sự với con người đầu tiên là Đức Maria, rồi với mỗi người chúng ta. Noel gắn liền với lịch sử mỗi người, nó kéo dài và hoàn tất trong cuộc đời mỗi người. Thiên Chúa “muốn ở cùng con người”, muốn ở trong trái tim, trong cuộc đời mỗi người. Thật là một cuộc kết hôn tuyệt vời. Cảm nghiệm được sự tuyệt vời đó, linh mục Giuse Maria Nguyễn văn Thích đã sáng tác bài hát: “Trời cao đất thấp gặp nhau”, trong đó có câu ca tụng Thiên Chúa :
Khiêm nhường đến thế thì thôi
Hạ mình đến thế tuyệt vời thẳm sâu.
(Cuộc hôn nhân được thực hiện trong bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thánh Thể).
3- Mừng Chúa Giáng Sinh theo định hướng Tân Phúc Âm Hóa
Phần đầu đã nói: Noel là cơ hội thuận tiện để mọi Kitô hữu Việt Nam “duyệt xét lại xem” mình đã tổ chức mừng Chúa giáng sinh theo định hướng của Tân Phúc âm hóa chưa, nghĩa là tổ chức mừng Chúa giáng sinh để Phúc âm hóa chính mình và Phúc âm hóa những người sống chung quanh mình, với một nhiệt tình mới, với một phương cách mới chưa?. Mới ở đây là tổ chức mừng lễ theo đúng ý nghĩa và chủ đích mà Chúa muốn. Điều Chúa muốn là Noel phải là lễ Chúa giáng sinh để  “ở cùng con người” (Emmanuel), để đến trong trái tim, trong cuộc đời mỗi người. Mỗi dịp lễ Noel là cơ hội đặc biệt Chúa gõ cửa hỏi mỗi người: “Con có chỗ cho Chúa ở cùng con không? Con có dọn chỗ cho Chúa ở cùng những người thân cận chung quanh con, những người chưa biết Chúa, những trẻ em bị bỏ rơi, những người già yếu, bệnh tật cô đơn không?
Ở Á đông chúng ta có một kinh nghiệm rất quí giá là: “dĩ lễ tồn tâm”, nghĩa là dùng lấy lễ nghĩa bên ngoài để bảo tồn tâm tình bên trong: lấy lễ nghĩa thờ trời, thờ ông bà tổ tiên… để bảo tồn lòng hiếu trung với trời hiếu thảo với tổ tiên. Để mừng lễ Noel chúng ta đã có nhiều truyền thống lễ nghĩa bên ngoài như hang đá máng cỏ, đèn sao, như văn nghệ ca múa, như hoạt cảnh, canh thức, diễn nguyện, kiệu Chúa giáng sinh; chúng ta còn tổ chức lạc quyên tiền bạc, quần áo, gói các phần quà giáng sinh để chia sẻ cho mọi người… Theo ý muốn của Hội đồng Giám mục, chúng ta cần duyệt xét để chọn lựa những gì thực sự bảo tồn được điều cốt lõi của lễ Noel là đón tiếp, là kết hôn, là hiệp thông với Chúa ở trong trái tim, trong tâm hồn mình;đồng thời cùng giúp cho mọi người chung quanh hiểu đúng ý nghĩa và chủ đích của lễ Noel để họ có thể đón tiếp Chúa vào trong trái tim và cuộc đời họ.
Nhiều xứ đạo có thói quen trước lễ mọi người cùng đi kiệu rước tượng Chúa Hài đồng rất xinh đẹp bằng thạch cao hoặc bằng nhựa tổng hợp, đem vào đặt trong hang đá máng cỏ, được trang trí lộng lẫy… Nếu cuộc rước kiệu đó không mang ý nghĩa là bày tỏ tâm tình chúng ta chân thành rước Chúa vào trái tim, vào cuộc sống chúng ta hằng ngày, thì cuộc kiệu ấy mang ý nghĩa gì? Tôi cũng nhớ đến một câu chuyện về giấc mơ của một cha xứ. Sau khi cha tổ chức và cử hành lễ Noel trang trọng cũng như ăn tiệc giáng sinh vui vẻ, cha xứ về ngủ thiếp đi và mơ thấy Chúa Hài đồng hiện ra. Cha nói với Chúa Hài đồng: “Con đã đem hết khả năng để tổ chức mừng lễ Noel thật hoành tráng, Chúa có thích không?” Chúa Hài đồng mắt đẫm lệ trả lời cha xứ rằng: “người ta đâu có rước Ta vào tâm hồn và vào cuộc đời họ…”.
Ngày nay mừng lễ Noel, chúng ta cần lưu ý đề phòng khuynh hướng của nhiều người muốn tục hóa lễ Noel, lợi dụng lễ nghĩa mừng Noel, để ganh đua sẵn sàng chi phí cho việc đổi mới hang đá hoành tráng hơn, đèn sao tối tân hơn, đổi mới cách vui chơi, ăn uống, du lịch giáng sinh cho thỏa thích hơn…Họ không quan tâm đến ý nghĩa và chủ đích của lễ Noel là Chúa muốn đến ở với mọi người, Chúa mong vào trong trái tim, vào trong cuộc đời của mỗi người; họ như vô cảm với những khu nhà ổ chuột, trong đó có những trẻ em bị bỏ rơi, những người già yếu bệnh tật cô đơn, những địa chỉ nhân đạo đang cần có người mang Chúa đến để ở cùng họ, yêu thương và cảm thương, an ủi họ…
“Chúa yêu ta đến thế. Ai mà không yêu lại!”
“Anh em thân mến,
nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế,
chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4, 11).

Linh mục Antôn Nguyễn mạnh Đồng
Nhà hưu dưỡng linh mục Cần Thơ
Tháng 10 năm 2014
 




(Nguồn: conggiao.info)
Ký túc xá gồm hai dãy nhà. Dãy A dành cho nữ, dãy B dành cho nam. Cả dãy B xôn xao từ khi xuất hiện “cô bé trầm tư”. Năm 1, năm 2, rồi năm 3, vẫn không chàng nào “bắt cóc” được cô bé. Đặc biệt là bất cứ khi nào xuất hiện ở đâu, cô bé chỉ “chuyên trị” màu trắng hoặc tím. Bản tính tôi không quan tâm lắm tới chuyện làm quen. Chẳng kênh kiệu chi cho cam mà tôi chỉ nghĩ là lúc này chuyện học tập phải ưu tiên số một. Cứ lo “cua” thì dễ có ngày “mất của” lắm.

Trời mấy bữa nay xám lại, se lạnh. Sang đông. Các nữ sinh viên trong những chiếc áo len đủ màu sắc, đủ loại. Hẳn là thích mắt nhiều người. Dĩ nhiên là trừ tôi. Có lẽ tôi “khó tính”. Trong phòng còn lại Phi, Nguyên và tôi. Một chiếc áo len tím thoáng ngang qua trước cửa phòng. Phi nói:
– Ê, Điền. Cô bé trầm tư mới ngó vô đây. Chắc là có nhã ý tìm mày.
Tôi im lặng. Tụi này “quỷ” lắm. Nguyên “đổ dầu” thêm:
– Ừ, chiều qua cô nàng hỏi mày, chắc định mượn hoặc nhờ mày gì đó.
Tôi phải “mở mỏ”:
– Thôi đi các “cha”. Cho “con” xin hai chữ bình an!
Phi và Nguyên cười khúc khích ra chiều “thâm ý”, rồi cà khịa thêm:
– Thì “con” vẫn bình an vô sự đó thôi.
Hai thằng bàn ra, tán vào đủ thứ. Tôi đầy hai lỗ tai. Theo “quy ước”, trong ba thằng, đứa nào rủ được nàng đi ăn chè thì tối nay sẽ được thưởng một cuốn từ điển Webster hoặc một cuốn Wordfinder bằng tiền của hai đứa kia. Bất đắc dĩ, tôi “liều mạng” để “thí cô hồn” một lần cho nó “nể mặt” kẻo bị cà khịa hoài. Bực mình, tôi nói mạnh:
– Chơi thì chơi luôn. Wordfinder của Oxford đàng hoàng nha. Chịu thì chơi.
Phi tròn mắt:
– Chà! Ghê nha. Thằng Điền hôm nay “điên” đột xuất, điên nặng thật rồi.
Tôi thêm vào:
– Nhưng chỉ riêng hai người thôi. Hai đứa kia phải ở nhà, không được đi theo.
Nguyên nhảy lên như điện giật:
– No, no. Never. Có mặt để làm chứng chứ mày!
Tôi cự tuyệt, nhất định không chịu cho ai theo nếu tôi “được”.
Rồi thỏa thuận cũng ổn. Phi và Nguyễn “biến” mất tiêu. Cơm trưa cũng không thấy đứa nào xuất hiện. Chủ nhật, đứa nào cũng đi suốt. Tôi ít đi nên thường được làm nhiệm vụ “gác đồn”. Cũng được. Càng tốt. Có dịp học. Tụi nó vẫn đặt cho tôi nickname là “mọt sách” mà. Tôi “buồn tình” nằm nghe radio, hết FM Bình dương đến VOH giao thông, cải lương hoặc ca nhạc gì cũng nghe hết. Vừa nghe vừa làm bài. Sợ làm phiền hàng xóm nên tôi thường nghe qua earphone. Tôi “phê” lúc nào không biết.
Nghe tiếng gõ cửa, tôi vẫn nằm im. Lắng nghe. Gõ nữa. Tôi choàng dậy lật đật vội xỏ thêm chiếc quần dài. May quá, linh tính có khác. Không thì có nước “độn thổ”. Cửa mở. Ôi, lạy Chúa! Tôi không khỏi mắc cở. Nàng mỉm cười như trong cổ tích. Tự nhiên tim tôi giang tấu hết Cha Cha Cha sang Bebop. Khó tả. Nhất là xấu hổ vì bộ xương cách trí của thằng tôi!
– Xin lỗi Mai Khuyên. Cho khoác thêm chiếc áo nha.
Trở ra, tôi chưa hết lúng túng. Vẫn nụ cười. Không dám tin ở mắt mình, tôi dụi mắt. Nàng nói đỡ:
– Xin lỗi vì Khuyên phá giấc ngủ của anh.
– Không sao. Có gì không, Khuyên?
Nàng đánh rơi cái nhìn xuống đất, trầm giọng:
– Anh Phi nhắn Khuyên sang đây…
Hai thằng này “ác ý” ghê! Nhưng tôi như mèo mù gặp cá rán vậy. Tôi cố ý đánh trống lảng:
– A, Khuyên vô đây đã. Khách đến nhà mà bắt đứng cửa hoài.
Khuyên theo tôi vô. Vừa kéo ghế (một chiếc duy nhất) tôi vừa nói:
– Khuyên ngồi đi.
Tôi ngồi trên chiếc giường đối diện. Cả hai im lặng. Nhìn nhau rồi quay đi. Nhìn xuống đất. Cứ nhìn vu vơ. Tôi gãi đầu, lời nói đứt quãng:
– Có chuyện này mà… mà… không tiện nói ở đây.
Ngưng một chút. Khuyên vẫn im lặng. Là con trai mà tôi cứ ấp úng, không nói được. Tôi thầm cầu nguyện cho nàng nói trước và nói nhiều để tôi… đỡ nói. Im lặng kéo dài. Con gái gì “lì” quá đi! Kẹt quá, tôi đành phải nói trước:
– Mình đề nghị vậy nè. Nếu có gì không phải, Khuyên bỏ qua nha!
Khuyên gật đầu:
– Anh cứ nói đi.
– Nếu được, tối nay đi ăn chè. Quán Sinh Viên bên kia đường đó.
Khuyên im lặng khiến tôi càng thấy ngại. Bụng tôi đánh lô tô. Lúc sau, Khuyên ngập ngừng:
– Nhưng… mấy giờ mới được chứ?
Tôi như trúng số. May quá. Nhẹ mình. Tôi khoan khoái thở phào. Ừ ha! Đôi khi người ta “ngu” đột xuất. Tôi hỏi như để xác định:
– 18 giờ 30 được không?
Khuyên gật đầu và kèm theo nụ cười “miểng chai” làm tim tôi muốn “rướm máu” luôn. Chi mà “ác” dễ sợ!
Khuyên khóa 15, tôi và hai “ông thần nước mặn” kia khóa 13 (xui gì đâu!). Vì thế, tôi nghiễm nhiên được lên chức “anh”. Ngọt chè! Nghe đâu Khuyên ở miền Tây, cụ thể là Cà mau. Gia đình khá giả và thức thời lắm, cho nên ba má bằng lòng cho Khuyên lên thành phố học.
Ngoài giờ “chính khóa”, Khuyên còn đi học thêm vi tính. Tôi thấy thèm những thuận lợi Khuyên đang tận hưởng. Nàng khá xinh. Giọng miền Tây nghe phát ham, ngọt như mía lùi dễ thương gì đâu! Khuôn mặt tròn với mái tóc chấm vai trông rất logic. Ở miệt dưới, nghe đâu “muỗi bay như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”, nghe mà… phát ớn. Khuyên kể tôi nghe đủ thứ về sông nước, rừng tràm, rừng đước,… Tôi nghe say sưa. Chẳng phải để lấy lòng mà tôi dự định sẽ thử viết truyện để đăng báo xem sao. Biết đâu được đăng, nàng sẽ đọc và sẽ dễ có “cảm tiền” với tôi? Nghĩ sơ sơ vậy cũng đủ phấn khởi. Tôi gật gù ra chiều đắc ý. Tôi cười và nghĩ thầm: “Hai thằng quỷ sứ kia, tụi bay chết!”.
– Có gì mà anh vui vậy?
– À, không. Mà Khuyên nè, miền Tây lãng mạn và thơ mộng lắm sao mà nhiều người ca tụng dữ vậy?
– Tùy thôi. Anh chưa về miền Tây sao?
– Mù tịt. Ước gì có dịp theo Khuyên về một lần cho biết.
– Nếu anh muốn thì dễ thôi. – Mai Khuyên hóm hỉnh nói ngay.
o0o
Tối. Ngồi đối diện với Mai Khuyên, tôi thấy có cảm giác lạ. Trái tim tôi như “sinh chứng” bất thường. Lỡ rồi. Phóng lao phải theo lao. Ráng! Cầu cho hai thằng quỷ sứ tránh xa “vùng cấm địa” này cho khỏi rắc rối. Xưa nay tôi cầu “linh” lắm, không biết lần này thế nào đây. Vì không quen nói dối (bản tính như vậy chứ không khoe mình tốt lành gì đâu), tôi đành phải “thú tội” với Khuyên rằng ba thằng có “cá độ” với nhau nên mới có buổi gặp gỡ này. Nàng im lặng. Im lặng chi mà tôi nghe “ngứa” cả đầu. Gãi. Sợ nàng phật lòng, tôi vội hỏi:
– Khuyên có giận không?
Khuyên nhìn vào khoảng trống giữa hai ly chè và nhẹ giọng:
– Có và không. Khuyên ghét mấy anh quá hà. Khi không đưa người ta ra…
– Xin lỗi Khuyên.
Nàng nâng ly chè lên. Những ngụm nho nhỏ khiến tôi cũng thấy đậm đà. Ngừng lại, Khuyên khẽ nói:
– Thế mấy anh cá độ thứ gì?
– Một cuốn từ điển Wordfinder loại mới, của Oxford đàng hoàng.
– Vậy phải cho Khuyên mượn để tra cứu nữa đó nha. Có công của Khuyên chứ bộ!
Dĩ nhiên tôi đồng ý cả hai chân lẫn hai tay mà không kèm điều kiện chi ráo trọi. Ôi, tạ ơn trời đất! Cảm ơn hai thằng quỷ sứ nữa. Nhờ tụi nó mà tôi đã… (Khó nói thí mồ đi. Xin đừng ai bắt nói công khai. Kỳ lắm!).
Từ đó, tôi được nước, thi thoảng tôi lại “kiếm cớ” để được cùng nàng ra quán “đối ẩm”. Lúc nào “nặng túi”, tôi rủ thêm Phi và Nguyễn như để thầm “đền ơn” tụi nó. Có lần Khuyên hỏi:
– Quê anh ở Đồng Nai mà khu nào?
Điều tra lý lịch “dễ sợ”. Tôi thản nhiên:
– Long thành. Xa lắc xa lơ. Dân quê mà!
– A, Long thành nhiều trái cây lắm. Chừng nào về quê nhớ để dành trái cây cho Khuyên đó.
– Sầu riêng hay chôm chôm?
– Cả hai luôn.
Khuyên giấu nụ cười sau chiếc khăn tay. Tôi thấy “mầm duyên” đang có mòi phát triển. Lòng tôi rạo rực khó tả. Bồi hồi. Lâng lâng. Và hình như thoáng bối rối của chút men tình đầu. Vui vui làm sao ấy! Một thứ cảm xúc dễ chịu, đẹp như tiểu thuyết vậy. Khó có thể xác định.
Thế mà hai lần nhận điện báo má đau nặng, Khuyên về quê mà tôi không biết. Bạn bè chọc ghẹo tôi đến sượng cả người. Khuyên vội? Khuyên sợ tôi “xin theo”? Tự dưng tôi đâm buồn vô cớ rồi nghĩ mông lung. Vô duyên ghê đi! Khuyên vẫn giữ cuốn từ điển thắng độ của tôi.
Không dám hỏi mặc dù tôi đang rất cần nó. Sáng nay chủ nhật. Thằng thì về quê, thằng thì đi chơi, kể cả hai thắng quỷ sứ. Tôi ở lại phòng mình ên. Cả tuần nay “ăn chay trường”, điểm tâm bằng vài động tác thể dục để giết thời gian. Đói quá nên khó tập trung học. Tai ù đi cũng không nghe băng ngoại ngữ được. Chữ cứ nhảy ngang nhảy dọc, không “sàng” được chữ nào vào đầu. Ngồi im như “chó xích” nhìn chút sương vương lại trên những tán cây lớn bên kia đường. Ký túc xá lặng hẳn đi trong cái se lạnh chớm đông này. Có tiếng gõ cửa và tiếng gọi khẽ:
– Anh Điền ơi!
Cô bé trầm tư. Trống ngực khua dồn. Tôi ráng làm ra vẻ tự nhiên khi mở cửa, nàng biếu không cho tôi một nụ cười duyên hết biết!
– Khuyên gởi lại anh cuốn từ điển.
Tôi chỉ gật đầu. Như chợt nhớ ra điều gì, tôi nói:
– Vô chơi chút đi Khuyên.
Tôi ngồi lật lật cuốn từ điển cho tay đỡ… thừa. Tôi chợt thấy mảnh giấy kẹp trong sách. Tôi mở coi:
Thân gởi Đ. Và Kh.,
May all of you be happy. Hãy “love” đến “đờ” và “khờ” luôn nha!
Điệp-Viên-Không-Không-Thấy
Lại hai thắng quỷ sứ chứ ai trồng khoai đất này! Chúng nó “mầu nhiệm” quá. Tôi nghĩ thầm. Chợt nhìn Khuyên, tôi lại “diễm phúc” nhận thêm một nụ cười miễn phí nữa. Tôi vu vơ:
– You love ai chưa?
Khuyên nhìn xuống đất và lắc đầu. Tôi “cứng họng”. Rồi nàng nói:
– Thôi, Khuyên về nha!
Tôi vội quay ngang, không nói được gì. Nàng khuất sau cánh cửa. Từ đó tôi “nhiễm” luôn “căn bệnh” của nàng, ít nói hẳn đi. Có những tiết học mà hồn tôi cứ lang thang đâu đó. Nỗi buồn vô cớ không nơi trú ngụ. Tôi bắt đầu hút thuốc lá, uống cà-phê, làm thơ và… mất ngủ, thậm chí còn “mắc dịch” (lo dịch bài đăng báo). Có phải căn bệnh nắng mưa như thi sĩ Nguyễn Bính chăng? Nhiêu khê!
o0o
Thời gian thấm thoát. Mỗi đứa ra trường rồi có công việc riêng, hoàn cảnh khác nhau. Những mùa đông cứ đến rồi lại đi… Vậy mà đã hơn 10 năm rồi còn gì!
Cũng lại là chủ nhật. Học sinh nghỉ học. Tôi tự dưng thèm ly cà-phê nóng trong buổi sáng se lạnh thế này. Tìm một góc quán vắng. Ngẫu nhiên êm vang câu hát: “Que sera sera… What will be will be…”. Mùi thơm cà-phê làm tôi có cảm giác sảng khoái, dễ chịu. Hít một hơi thuốc lá. Chợt một cô gái mặc chiếc áo len tím đi ngang trên đường, nhìn dáng rất giống Khuyên, khiến tôi nhớ lại thời sinh viên, nhớ về cô bé trầm tư. Kỷ niệm ùa về trong tôi…
Tôi viết và viết. Cảm xúc dạt dào. Nuối tiếc tình cảm ngày xưa chưa kịp nói. Có lẽ tôi chưa bao giờ viết như hôm nay. Viết như thèm viết lâu ngày. Viết như “ngứa óc” mà viết. Chợt nhìn đồng hồ: 10 giờ. Có lẽ chủ quán “nóng ruột” vì có người khách “lì” như tôi. Tôi lật đật về phòng. Vài cô cậu học sinh chào khi thấy tôi.
Thấp thoáng những học sinh học phụ đạo hoặc vô trường chơi. Tôi ngồi viết lại những gì vừa viết ngoài quán. Quên đói buổi trưa. Như phản xạ của tiềm thức, tôi bỏ xấp giấy vào phong bì để gởi cho báo. Ước muốn ngày nào nay mới thành hiện thực.
Giờ này cô bé trầm tư đang ở Cà Mau, ở Utah (1) hay ở phương trời xa nào? Tôi hy vọng mong manh rằng khi báo đăng thì Mai Khuyên sẽ tình cờ đọc được cả nỗi nhớ mùa đông. Khuyên ơi! You có trái tim mùa đông không?
Tôi lặng lẽ nhìn lên những đám mây xám giăng ngang bầu trời. Tôi thấy chúng mang màu tím chứ không mang màu xám như người ta thường nói, một dạng màu-tím-trong-suốt. Rất lạ! Ở Việt Nam không có tuyết, chỉ có hơi sương se lạnh, và trong sâu thẳm đáy lòng hình như cũng có chút lạnh!
Rất ngẫu nhiên, ca khúc “Sầu Đông” của Nhạc sĩ Khánh Băng đang vang vọng da diết từ bên nhà hàng xóm: “Chiều nay gió Đông về, dừng chân trên bến xưa, đời trai gió sương về thăm cố hương, tìm bao nhớ thương, mà sao phố phường vắng. Tình sầu lạnh buốt đêm trường!”. Nỗi buồn chợt thêm xa vắng…
May thay, tiếng chuông leng keng của ca khúc “Jingle Bells” (2) cũng vừa kịp vang lên xóa hết dấu vết u buồn: “Dashing through the snow, in a one-horse open sleigh, o’er the fields we go, laughing all the way… Jingle bells, jingle bells jingle all the way…”.
Tạ ơn Chúa, Ý Chúa cao siêu đã tiền định kỳ diệu, tình yêu của Ngài vẫn mãi bao la và nhiệm mầu, vượt xa trí hiểu của nhân loại. Tôi ngâm nga: “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội…” (Cố Ns Duy Tân). Quá khứ là quá khứ. Hiện tại là hiện tại. Kỷ niệm là kỷ niệm, hãy để nó “ngủ yên”. Nước đã lắng phèn, trong veo, đừng khuấy cho nước vẩn đục. Cuối cùng chỉ còn Chúa, như Thánh Augustinô nhờ dày kinh nghiệm “xương máu” mà rút ra được kết luận: “Ngài có đó khi ta tưởng đơn côi, Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lại, Ngài thương ta khi tất cả hững hờ”.
Trầm Thiên Thu
(1) Một bang nhỏ ở Hoa Kỳ.
(2) J
ingle Bells là ca khúc nổi tiếng thế giới và phổ biến vào mùa Đông. Ca khúc này của Nhạc sĩ James Lord Pierpont (1822–1893) viết vào năm 1850, được xuất bản với tựa đề “One Horse Open Sleigh” vào mùa Thu năm 1857. Ca khúc này được viết cho lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) nhưng lại được người ta dùng làm ca khúc Giáng sinh.

Những tiếng nấc nghẹn ngào trong lời tiễn biệt cha P.M Bùi Văn Huyên của vị đại diện giáo xứ Gia Hòa cũng là tình cảm của đoàn người từ nhiều giáo xứ nơi vị cha già đã từng phục vụ đổ về tiễn đưa cha trong thánh lễ an táng do Đức cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên chủ sự vào sáng ngày 24.09.2014.


Nơi họ đạo nhỏ bé Yên Lĩnh, giáo xứ Gia Hòa có gần 100 linh mục, hàng trăm tu sĩ nam nữ và hàng ngàn giáo dân khắp ba tỉnh Nghệ - Tĩnh – Bình đã đến hiệp thông trong thánh lễ an táng và để tiễn biệt vị cha già đáng kính. Màu trắng khăn tang, những tiếng nấc nghẹn ngào, những giọt nước mắt chia ly khiến không ai không khỏi ngậm ngùi thương tiếc.

Dẫu biết rằng cuộc đời con người ai cũng đều phải trải qua “sinh, lão, bệnh, tử”, thế nhưng mỗi một người ra đi đều để lại những dấu ấn trên cõi dương gian. Cha Phaolô Maria Bùi Văn Huyên đã hoàn tất sứ mạng mà Thiên Chúa trao phó ở trần gian để trở về với Đấng mà trọn đời cha hằng khát khao tìm kiếm. Trong niềm tín thác, chúng ta có thể tin đó là niềm hạnh phúc của cha như lời thánh vịnh 125 “Khi Chúa thương gọi tôi về, hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ…”. Thế nhưng, những di sản tinh thần mà cha để lại cho anh em linh mục, người thân, đoàn con cái mình trong những năm tháng ngài phục vụ khiến ai nấy không khỏi rơi những dòng lệ tiếc thương. Sự thương tiếc đó tạo nên một màu trắng xót xa nhưng tràn trề hy vọng, cả biển người lặng lẽ rớt những giọt nước mắt như hạt kinh dâng nguyện cầu cho linh hồn vị cha già đáng kính.

Đức cha Phaolô Maria nhắc nhớ: “Trong giai đoạn khó khăn của Giáo Hội Việt Nam nói chung và cách riêng là Giáo phận Vinh, cha già Huyên đã toàn tâm, toàn lực phục vụ nhà Chúa, bảo vệ và dẫn dắt đoàn chiên mình coi sóc vượt qua thử thách gian truân…”.

Quả thế, với 83 mùa thu của cuộc đời, 49 năm linh mục, cha già Phaolô Maria đã có cống hiến to lớn cho Giáo hội Chúa và vì phần rỗi các linh hồn. Bước chân của cha đã kinh qua nhiều miền đất, nhiều xứ đạo để vun xới những hạt giống và cho trổ sinh nhiều hoa trái Đức tin. Từ Tiếp Võ, Tràng Đình, Phù Long, Thượng Nậm; từ Kẻ Đông, Vạn Thành, Hòa Thắng đến Gia Hòa và cuối cùng là giáo họ Yên Lĩnh (Gia Hòa) nơi ngài “dừng chân”, không nơi nào không có dấu ấn và những giọt mồ hôi của cha. Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Vinh, đại diện linh mục đoàn Giáo phận, trong lời tiễn biệt đã nhìn nhận cha già Phaolô Maria là một “mẫu gương cho anh em linh mục chúng tôi noi theo và học hỏi”, ngài nói: “Cha già của chúng ta là bậc đàn anh đáng kính và để lại những di sản tinh thần to lớn mà ít ai có được. Đó là một lòng đạo đức sốt sắng và hăng say vì sứ vụ linh mục. Là tình yêu tuyệt vời với Thiên Chúa, mẹ Maria và các linh hồn. Ngài đã không ngừng nỗ lực xây dựng các cộng đoàn dân Chúa lớn mạnh cả về vật chất và tình thần với một tình yêu không ngưng nghỉ, đến nỗi, khi hưu dưỡng từ 2007 đến nay tại Yên Lĩnh ngài vẫn không dừng việc điểm tô cho giáo họ này những công trình phục vụ sự thăng tiến con người. Ngài quả là mẫu gương tuyệt vời cho anh em linh mục noi theo và học hỏi”.

Trước cảnh tang thương mất mát và nỗi đau của đoàn con cái của cha già, Đức cha Phaolô Maria an ủi: “Niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Thiên Chúa, qua sự Phục Sinh vinh hiển của Đức Kitô sẽ đưa chúng ta đến chiến thắng trước sự chết mà tiến vào cõi trường sinh. Chúng ta tin tưởng vào lòng thương xót vô vờ của Thiên Chúa sẽ tha thứ tất cả những lỗi lầm do phận người yếu đuối mỏng manh mà cha già của chúng ta đã mắc phải trong cuộc đời tại thế và Chúa sẽ dẫn đưa ngài vào nơi mà ngài hằng khao khát”.

Sau khi ban phép lành cuối lễ, Đức cha Phaolô Maria đã tiến đến linh cữu cha già và cử hành nghi thức tiễn biệt. Giữa cảnh chia ly từ biệt và trong niềm biết ơn vô hạn, cha Micae Hoàng Xuân Hường, đại diện anh em linh tông huyết tộc đã nghẹn ngào ôn lại những tình cảm cha già đã dành cho đoàn nghĩa tử: “Cha đã nuối nấng chúng con, dạy dỗ chúng con và cưu mang chúng con bằng tình yêu của người cha và yêu thương nâng đỡ chúng con bằng trái tim của một người mẹ”.

Như sở nguyện của cha già Phaolô Maria trong lời di chúc ngài để lại, thi hài của cha được an táng tại khuôn viên nhà thờ giáo họ Yên Lĩnh, giáo xứ Gia Hòa. Ngài ra đi nhưng vẫn còn bịn rịn lưu luyến và trăn trở vì công trình dang dở đang thực hiện cho “đứa con” nghèo khó Yên Lĩnh. Ngài muốn nằm lại đó như một sự động viên, như để tiếp tục đồng hành và chăm sóc những đứa con mà ngài hằng yêu thương. Rồi đây, những ai về với Yên Lĩnh sẽ không thể không ghé thăm, dâng lên những câu kinh chuỗi hạt và lời cầu xin trước phần mộ của vị cha già đáng kính. “Cha đi trước để mà lo chỗ ở/ Cho chúng con được an nghỉ mai sau/ Mong rồi đây cha con gặp lại nhau/ Trong nước Chúa nơi không còn ly biệt”. Xin thành kính vĩnh biệt cha, người linh mục nhiệt thành. 


Peter Thái Hùng

Ngày 10.9.2014 Tổng Thống Obama đã đọc một bài diễn văn tuyên bố sẽ “làm suy yếu rồi cuối cùng tiêu diệt IS hoàn toàn thông qua một chiến lược toàn diện và bền vững”, trong khi đó ngày 11.9.2014, tạp chí Time lại cho phổ biến bài “The Never-Ending War” (Cuộc chiến không bao giờ dứt) của bình luận gia Michael Crowley, nói về cuộc chiến nầy.


Michael Crowley là Trưởng nhóm phóng viên ngoại vụ của tạp chí Time, phụ trách các vấn đề về chính sách ngoại giao và an ninh quốc gia ở Washington và trên thế giới. Ông đã nhìn lại cuộc chiến đẫm máu giữa hai giáo phái Sunni và Shiite kể từ khi nhà tiên tri Mohammed qua đời năm 632 kéo dài cho đến ngày nay để giành quyền lãnh đạo Hồi Giáo và tin rằng nó sẽ không bao giờ chấm dứt.
Nhìn qua các cuộc tranh chấp giữa hai khối Hồi Giáo trong lịch sử sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn các diễn biến của tình hình hiện nay ở Trung Đông và thử xem chiến lược của Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đang thực hiện có đem lại kết quả mong muốn hay không.
XUẤT PHÁT TỪ MỐI THÙ TRUYỀN KIẾP
Nhà văn Lỗ Tấn nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử ăn thịt người, nhưng nếu nhìn lại lịch sử Hồi Giáo chúng ta sẽ thấy lịch sử này còn ghê rợn hơn nhiều.
Năm 632, nhà tiên tri Mohammad qua đời mà không chỉ định người kế vị. Một cuộc tranh luận về người kế vị – được gọi là Khalifa hay Khalip, tiếng Anh là Caliph và tiếng Pháp là Calife – đã đưa tới nhiều biến cố đẫm máu.
Nhà tiên tri không có con trai, chỉ có một đứa con gái duy nhất là Fatimah và người chồng của cô này  là Ali ibn Abi Talib. Những người thuộc nhóm này nói rằng người lãnh đạo tinh thần của Hồi Giáo được gọi là IMAM phải là một vị thánh (a holy man) và thuộc dòng dõi Ali-Fatimah. Do đó, họ cho rằng Ali là vị Imam đầu tiên đã được nhà tiên tri Muhammad chỉ định.
Nhưng người cha vợ của nhà tiên tri là Abu Bakr và đa số chủ trương rằng người kế vị phải là người có đủ tư cách để trở thành Caliph và những người lãnh đạo (Shura) phải được chọn theo phương pháp được kinh Koran quy định, đó là sự đồng thuận của Cộng Đồng Hồi Giáo (Ummah).
Vì phe Ali chỉ là thiểu số, nên người đầu tiên được bầu làm Imam là Abu Bakr (632-634), người thứ hai là Umar ibn al-Khattab (634-644), người thứ ba là Uthman ibn Affan (644-656), người thứ tư mới đến Ali Ibn Abi Talib (656-661). Abi đã bị một người theo dị giáo gần Kufa thuộc Iraq giết năm 661. Những người ủng hộ Ali đã vận động để giành sự ủng hộ cho người con trai của Ali là Hussein. Nhưng trong một cuộc đụng độ gần thành phố Karbala vào ngày 10.10.680, Hussein đã bị chém đầu. Từ đó Hồi Giáo bị chia làm hai phái không bao giờ chịu đội trời chung và luôn tìm cách thanh toán nhau, đó là phái Sunni và phái Shiite (hay Shiar).
Nhiều người cho rằng chữ Sunni có nghĩa là đa số, nhưng tài liệu cho biết chữ Sunni phát xuất từ chữ Sunnah trong Hồi Giáo được dùng để chỉ các lời nói và hành động của nhà tiên tri Muhammad khi giải thích về kinh Koran được ghi chép trong Hadiths, thường được coi là truyền thống của Hồi Giáo. Còn chữ Shiar trong tiếng A-rập có nghĩa là một nhóm hay đảng ủng hộ và được dùng để chỉ những người đi theo Ali (Shia-t-Ali) hay đảng của Ali (Party of Ali). Như vậy Sunni là đi theo truyền thống của nhà tiên tri Muhammad còn Shiite là đi theo Ali. Shiite chủ trương giáo quyền lãnh đạo quốc gia còn Sunni chủ trương thế quyền. Nhưng cả hai đều coi kinh Koran là hiếp pháp và luật Sharia là luật pháp quốc gia.
NHỮNG CUỘC CHIẾN ĐẪM MÁU
Hồi giáo từ ngày thành lập đến nay đã gây nhiều cuộc chiến đẫm máu trong nội bộ cũng như trên thế giới, đưa tới những biến loạn không bao giờ dứt.
1. Những cuộc chiến đẫm máu trong nội bộ
Trong lịch sử 14 thế kỷ, từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 21, đã có nhiều cuộc xung đột đẫm máu trong nội bộ của Hồi Giáo giữa Sunni và Shiite. Sau đây là  những biến cố chính:
- Từ năm 1400, Hoàng đế Timur thuộc giáo phái Sunni đã đem quân đánh chiếm Aleppo, Damascus, đông Anatolia, Baghdad và Thổ Nhĩ Kỳ, sát hại hơn 1 triệu tín đồ Shiites.
- Năm 1467, đế quốc Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ theo phái Sunni đem quân đánh chiếm Syria, Ai Cập, Bắc Phi và Arabia. Các tín đồ Shiite thường nổi lên chống lại đế quốc này nên nhiều triệu tín đồ Shiites đã bị tiêu diệt.
- Đế quốc Hồi Giáo Safavid theo phái Shiites đã chinh phục được Ba Tư, rồi chiếm Azerbaijan, Bahrain, Armenia, Georgia, Bắc Caucasus, Iraq, Kuwait và Afghanistan, tồn tại từ 1501 đến 1771 (270 năm). Tại những nơi đế quốc Safavid chiếm được đều đem toàn bộ các giáo sĩ (clerics) Sunni ra chặt đầu và sát hại hàng triệu tín đồ Sunni.
Ngoài các vụ tranh chấp lớn nói trên, những vụ tranh chấp trong phạm vi một quốc gia hay xuyên quốc gia đã xảy ra thường xuyên và nhiều không thể kể hết được.
2. Gây thảm họa cho nhân loại
Mohammad khởi xướng thánh chiến (Jihad) với những người không tin Hồi Giáo. Người A-rập hưởng ứng rất mạnh mẽ, một phần vì mộ đạo, một phần vì “những chiến lợi phẩm” thu được sau mỗi lần thắng trận.
Trong suốt thế kỷ thứ 7, Hồi Giáo chiến thắng không ngừng. Họ bắt kẻ địch phải lựa chọn:“Nộp cống và thừa nhận Allah hay là chết”. Nhiều người theo Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo đã phải bỏ đạo và theo Hồi Giáo. Nhờ vậy, Hồi Giáo đã lập được những chiến công vào hạng oanh liệt nhất trong lịch sử thế giới. Phía Đông họ chiếm Syria và Ai Cập (634 – 639), Ba Tư (642) rồi tiến đến Ấn Độ và Tân Cương. Phía Tây họ chinh phục được Bắc Phi rồi từ đó tiến qua chiếm Tây Ban Nha. Qua thế kỷ thứ 8, Đế quốc A-rập đã mở rộng từ sông Hằng (Ấn Độ) đến Đại Tây Dương.
Trước sự bành trướng của Hồi Giáo, các tổ chức Kitô giáo đã thành lập các thập tự quân (crusaders) và mở các cuộc thập tự chinh (crusade) để chống lại. Cuộc chiến này kéo dài từ 1095 đến 1291, có tất cả 8 cuộc chiến lớn và nhiều cuộc chiến nhỏ. Năm 1289, Tripoli bị người Hồi Giáo chiếm và tới năm 1291, khi Acre cũng rơi vào tay Hồi Giáo, giai đoạn của các cuộc Thập tự chinh thời trung cổ kết thúc.
Nhưng các đế quốc A-rập tồn tại không lâu vì nội bộ chia rẽ. Sau này, khối A-rập lại được chia thành nhiều nước nhỏ theo bộ tộc nên ngày càng yếu dần. Tháng 7 năm 1798, Hoàng Đế Napoléon của Pháp tranh giành với Anh con đường thông thương qua Ấn Độ, đã đem quân chiếm Alexandria, xâm nhập vào Ai Cập, mở đầu cho thời kỳ bị thực dân thống trị. Thế giới Hồi Giáo từ Maroc tới Indonesia đã bị đặt dưới sự đô hộ của các nước thực dân Tây Phương. Sau thế chiến thứ nhất, Đế quốc Ottaman của Hồi Giáo sụp đổ, các nước Tây phương thắng trận đã chia Hồi Giáo thành những nước nhỏ để phân hóa, khống chế và khai thác.
TÌNH TRẠNG HỒI GIÁO HIỆN NAY
Theo tài liệu của Pew Research Center công bố ngày 22.11.2011, tổng số tín đồ Hồi Giáo trên thế giới hiện nay là 1,57 tỷ, chiếm 23% tổng số nhân loại, chỉ đứng sau Thiên Chúa Giáo (2,1 tỷ, tức 33,39%).
Số người theo phái Sunni chiếm từ 85% đến 90%. Phần còn lại là Shiite. Tổng số người theo Shiite khoảng từ 165 đến 200 triệu, tập trung ở các nước sau đây: Iran 90% dân số, Iraq 60%, Bahrain 66-70%, Lebanon 45-55%, Yemen 45%, Kuwait 30-40%, Syria 15%, Pakistan 10-15%, Afghanistan 10-15%, Saudi Arabia 10%, v.v.
Trong thế giới Hồi giáo, ở các quốc gia do người Sunni cầm quyền, người Shiite thường bị đối xử như công dân hạng hai, họ chỉ được làm các công việc lao động chân tay, và tài nguyên quốc gia không được chia xẻ một cách công bằng cho họ. Tiêu diệt Shiite là một chủ trương vĩnh cửu của Sunni. Chúng tôi xin nhắc lại, lãnh tu Hồi Giáo Sunni ở Qatar là Yusef al-Qaradawi, người yểm trợ tích cực các cuộc nổi dậy ở Trung Đông, đã tuyên bố rằng phái Alawites (Shiite) là “những kẻ ngoại đạo nguy hiểm hơn các Kitô hữu và các tín hữu Do Thái”. Ông cảnh báo rằng người Hồi Giáo Shiite ở Iran đang cố gắng “nuốt trọn” người Hồi Giáo Sunni.
ĐƯỜNG LỐI CỦA HOA KỲ
Tổng Thống Obama đã đưa ra một kế hoạch làm suy yếu rồi tiêu diệt nhóm Nhà Nước Hồi Giáo và vận động các quốc gia Tây Phương, các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông và Quốc Hội Hoa Kỳ yểm trợ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nga và Syria cũng đã đồng ý để không quân Hoa Kỳ thanh toán các sào huyệt của IS trên đất Syria. Trong những tháng qua, các cơ quan truyền thông quốc tế đã báo động các đại gia ở ba quốc gia Saudi Arabia, Kuwait và Qata đã yểm trợ tài chánh và phương tiện cho tổ chức ISIS để loại bỏ chính quyền Shiite ở Syria và Iraq. Không quốc gia nào cải chính tin này. Nhưng sau khi Tổng Thống Obama công bố kế hoạch làm suy yếu rồi tiêu diệt IS, hôm 18.9.2014, Quốc vương Sheikh Tamim bin Hamad Al của Qatar, một nước có 71% người Hồi Giáo Sunni, đã lên truyền hình cải chính nước ông không hề yểm trợ IS. Điều này cho thấy Hoa Kỳ đã tách được khối Sunni ra khỏi IS.
Theo ước tính mới nhất của CIA, hiện nay ISIS đang làm chủ 40% lãnh thổ Iraq và 25% lãnh thổ Syria. Báo cáo của CIA cũng nói ISIS có hơn 30.000 quân, trong đó có cả ngàn thanh niên nam nữ từ những nước khác sang Trung Đông tiếp tay cho chúng.
Sau khi được Quốc Hội chấp nhận ngân khoản điều hành cuộc chiến, công việc đầu tiên của không quân Hoa Kỳ là giúp quân đội Iraq chiếm lại 5 mỏ dầu ở miền Bắc Iraq do IS chiếm từ tháng 6, nhất là nhà máy lọc dầu chính của Iraq ở tỉnh Baiji cách thủ đô Baghdad khoảng 200 km. Tất cả những thành quả này có thể giúp Tổng Thống Obama cứu vãn được những chiếc ghế của Đảng Dân Chủ trong Thượng Viện có thể bị mất vào tháng 11 tới đây. Đó là nhu cầu trước mắt.
Việc thanh toán IS trên lãnh thổ Iraq có lẽ không khó lắm, nhưng lấy lại phần đất mà IS đã chiếm ở Syria khá rắc rối, vì lực lượng Quân Đội Syria Tự Do được CIA thành lập gần như tan rã, do đó việc tái thành lập và giao phấn đất mà IS đang chiếm hiện nay cho một nhóm Sunni khác quản lý để hình thành một vùng tự trị mới không phải là chuyện dễ dàng.
Kế hoạch chia 5 nước ở Trung Đông thành 14 nước theo chiến lược “Trung Đông Mới” được đưa ra dưới thời Tổng Thống Bush, phải mất vài năm nữa mới hoàn thành. Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn phải tiếp tục tạo thế cân bằng giữa hai khối Sunni và Shiite ở Trung Đông để hai khối kiềm chế nhau. Sau khi chiếm Iraq năm 2003, Hoa Kỳ đã phá bỏ quyền hành của khối Sunni thiểu số và trao cho khối Shiite đa số nắm quyền ở nước này. Hành động đó đã làm khối Sunni giận dữ và họ đã yểm trợ cho hai lực lượng al-Nusra và ISIS đánh chiếm lại. Có nhiều dấu hiệu cho thấy sau khi loại hai tổ chức cực đoan này, Hoa Kỳ sẽ chia Iraq thành ba phần, phía cực bắc dành cho người Kurk, phần thứ hai gồm 25% lãnh thổ Syria và 40% lãnh thổ Iraq do IS đang chiếm sẽ dành cho một nhóm Sunni khác. Shiite sẽ chỉ còn được giữ phần phía Nam Iraq mà thôi.
Kế hoạch phân hóa và cân bằng các lực lượng Hồi Giáo ở Trung Đông của Mỹ để làm giảm sức mạnh của khối này và ổn định tình hình rất phức và sẽ còn kéo dài trong liên tục lịch sử. Chúng tôi xin mượn kết luận của bình luận gia Michael Crowley trong bài “The Never-Ending War” để kết thúc bài này:
“Cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush từng nói về tinh thần tự do, và tổng thống đương nhiệm Obama thường viện đến tinh thần hợp tác. Cả hai chính trị gia đều nói về điều gì đó mạnh mẽ bằng trái tim hiện đại. Nhưng không ai – cũng không phải bản thân Mỹ – cho đến giờ này hoàn toàn đánh giá đúng sự ngự trị đang tiếp diễn của các tinh thần cổ xưa hơn nhiều: lòng căm thù, sự tham lam và sự gắn bó với bộ lạc. Một lần nữa, những tinh thần đó lại bị buông lỏng, và cả thế giới sẽ phải trả giá.”
Ngày 18.9.2014
Lữ Giang