Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Anh thanh niên mù đã chiến đấu với những bóng tối vây phủ đức tin của anh. Anh đã kiên trì và đã chiến thắng. Anh đã ra khỏi tối tăm, gặp được Chúa Kitô nguồn ánh sáng. Đời anh từ nay tràn ngập ánh sáng niềm tin. Còn tôi, tôi đã chiến đấu thế nào với những thế lực bóng tối đe doạ đức tin của tôi? Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối thù hận, những bóng tối độc ác, những bóng tối tự mãn kiêu căng, những bóng tối dục vọng tội lỗi. Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không? Mùa Chay chính là cơ hội cho tôi khêu ngọn đèn đức tin cho sáng, đổ dầu đầy bình cho ngọn đèn đức tin cháy mãi. Dầu, đó là sự ăn chay, cầu nguyện, là thống hối, là hoà giải, là chia sẻ cho người túng thiếu.
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM A
Các bài suy niệm và chú giải Lời Chúa
Lời Chúa: 1Sm 16,1b.6-7.10-13a; Ep 5,8-14; Ga 9,1-41
1. Người mù
Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, chúng ta nhận thấy: Anh mù là một người can đảm và đầy thiện chí.Mặc dù ít học, nhưng lời lẽ của anh thật là
khôn ngoan. Tâm hồn anh luôn rộng mở để đón nhận chân lý và luôn cố gắng thực
hiện những điều tốt lành, cho dù có gặp phải những phức tạp và phiền toái.
Ngoài ra anh còn có một chút châm biến đối với những kẻ rình rập bắt lỗi anh.
Trong khi đó cha
mẹ anh lại không muốn dây dưa vào câu chuyện xảy ra. Hai ông bà đã trả lời một cách khôn
khéo cho bọn biệt phái: Xin hãy hỏi cháu vì cháu nó đã có tuổi. Chủ đích của
hai ông bà không phải là tìm kiếm sự thật, nhưng là tránh đi những khó dễ gặp
phải.
Còn đám đông dân chúng thì sao? Một số người đã chứng kiến sự
việc xảy ra. Nhưng một số kẻ khác, có phần đông hơn, đã không muốn đón nhận sự thật. Họ bàn tán, họ tranh luận và sau cùng họ chối
bỏ sự thật. Để biện minh cho lập trường của mình, họ đã nại tới luật kiêng việc
xác ngày Sabat, tức là ngày thứ bảy nơi người Do Thái. Họ đã suy diễn một cách
hàm hồ: Người ta không được phép chữa bệnh trong ngày nghỉ lễ. Đó là một điều
cấm. Vậy thì Đấng đã chữa lành trong ngày nghỉ lễ là ai, nếu không phải chỉ là
một kẻ tội lỗi. Bọn biệt phái bực bội và tức tối. Thế nhưng, lời nguyền rủa và
bạo lực không bao giờ là những chứng cứ có giá trị, trái lại nó là một dấu chỉ
biểu lộ một niềm tin sai lạc mà thôi.
Chúa Giêsu hay biết anh mù đã bị trục xuất khỏi hội đường, bởi
đó khi gặp anh, Ngài đã hỏi anh ta: Con có tin vào Con Người hay không? Anh ta
liền thưa: Lạy Thầy, Thầy là ai để tôi tin vào Ngài? Chúa Giêsu nói: Con đã
thấy, chính Ngài đang nói với con đây. Cõi lòng anh lúc này được rộng mở để đón
nhận chân lý. Anh nói: Lạy Chúa, con xin tin. Anh quỳ gối trước mặt Ngài. Kể từ
đó, anh bước theo Ngài và thuộc hẳn về Ngài.
Trong một bài báo bàn về đức tin, cha Jacques Loew đã xác quyết:
Đức tin không phải là chấp nhận các công thức có sẵn, một lần thay cho tất cả,
cũng không phải là như một chiếc bánh, chúng ta có thể chia ra làm nhiều phần.
Trái lại đức
tin chính là niềm cậy trông và phó thác, không phải vào tư tưởng và sức riêng
của mình, nhưng là vào tình thương và quyền năng của Chúa.
Đời sống của Chúa chính là cái khuôn mẫu cho cuộc đời chúng ta
noi theo. Nếu chúng ta tin vào Đức Kitô và lời Ngài giảng dạy, thì cách sống
của chúng ta sẽ đổi khác, cách nhìn của chúng ta cũng đổi khác và cách đối xử
của chúng ta cũng đổi khác. Thế nhưng chúng ta đã có một niềm tin như thế hay
chưa, và hơn thế nữa, chúng ta đã thực sự sống niềm tin của chúng ta hay chưa?
[ ]
Có những người mắt sáng nhưng lại nhìn sự vật qua lăng kính của
những tư tưởng sai lầm, do đó đã trở thành mù. Một sự mù quáng còn trầm trọng
và tai hại hơn cả cái mù nơi thể xác, vì nó khép kín tâm hồn trước tình thương
và ơn sủng của Chúa. Đó là trường hợp của bọn Biệt phái trong đoạn Tin Mừng
sáng hôm nay.
Thực vậy, đầu mối câu chuyện chỉ vì Chúa Giêsu đã chữa lành cho
một người mù vào đúng ngày nghỉ lễ. Luật về ngày nghỉ lễ do bọn Biệt phái chủ
trương cấm làm những việc Chúa Giêsu đã làm. Thế nhưng Chúa Giêsu đã làm điều
cấm ấy, cho nên Ngài chỉ là một kẻ tội lỗi. Mà đã tội lỗi, thì không thể nào là
người bởi Thiên Chúa, do đó không thể làm được phép lạ.
Cái lý luận chặt chẽ ấy đã che mắt họ, không cho họ nhận biết
điều lạ lùng đang xảy ra. Được đặt trước sự thực, nhưng họ lại tìm cách chối bỏ
sự thực ấy: Kẻ được chữa lành không phải là người mù họ thường thấy, nhưng chỉ
là một người giống như hắn. Họ đã muốn phủ nhận ngay chính người được chữa
lành. Họ hạch hỏi và làm khó dễ cả người cha lẫn người mẹ. Bản thân anh cũng bị
tra hỏi, tất cả như muốn anh chối bỏ chính cái ơn huệ, chính cái thực tế diễn
ra nơi con người anh.
Thế nhưng cuộc hạch hỏi này lại cho chúng ta thấy người sáng
suốt lại chính là anh mù. Còn kẻ mù lại là bọn Biệt phái, vốn tự nhận mình là
thông suốt đạo lý và lề luật. Anh mù đã muốn đi từ thực tế không thể chối cãi
được, tìm hiểu về con người đã làm phép lạ, để rồi cuối cùng anh không phải chỉ
được chữa để nhìn thấy sự vật chung quanh, mà còn được nhận biết ánh sáng của
niềm tin, nhìn nhận Chúa Giêsu chính là Đấng từ trời đến, để thông chia cho mọi
người sự sống Thiên Chúa.
Trong khi đó bọn Biệt phái lại muốn đi từ một cách hiểu về đạo
giáo của họ để phán xét sự thật. Vì họ đã sai lầm trong cách hiểu và lý luận
của mình, nên họ đã bị bưng bít, không thể nhận ra được sự thật, cũng như ý
nghĩa của sự thật ấy.
Chúa Giêsu đã đảo ngược các hoàn cảnh. Người mù tin ở Ngài thì
được khỏi và được dẫn đến chỗ nhìn nhận mạc khải của Chúa. Trái lại những kẻ
vẫn tự khoe là thông thái và sáng suốt thì lại không thấy được Đấng đem ánh
sáng cứu rỗi đến cho con người. Họ tự giam mình trong tối tăm của sự chết.
Đây cũng là hoàn cảnh của chúng ta. Thực vậy, một cản trở không
nhỏ trên con đường đến với Chúa và nhận ra tiếng Ngài trong những biến cố của
cuộc sống đó là cứ bám víu vào những tiên kiến và tự mãn với những điều chúng
ta đã biết, bằng sự rập khuôn và óc câu nệ. Tất cả tạo nên một thứ hàng rào
kiên cố ngăn cản chúng ta tiếp cận với sự thật để được cứu rỗi. Những người thủ
cựu và cố chấp giống như những kẻ đeo cặp kính màu xám, thì nhìn cái gì cũng
hoá ra xám. Họ giống như những anh mù sờ voi, phùng má trợn mắt bảo vệ lập
trường của mình, mà chẳng ai nắm được sự thật.
Bọn Biệt phái đã căm thù Chúa Giêsu và cuối cùng đã tìm cách thủ
tiêu Ngài chỉ vì không chấp nhận để Ngài phá vỡ cái hàng rào này của họ. Chúng
ta cũng sẽ chỉ có ánh sáng của lòng tin khi nhìn nhận Chúa Giêsu chính là Đấng
đem lại cho chúng ta ơn cứu rỗi mà thôi. [ ]
(Trích từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)
Có hai vợ chồng đi tham quan một cửa hàng
trưng bày tranh thêu lụa. Vừa bước tới cửa bà vợ đã chăm chú nhìn vào bên trong
một hồi lâu rồi nhận xét: “Tranh gì đâu mà xấu vậy? Thêu người đàn bà chẳng
giống ai!”. Ông chồng vội bịt miệng bà và nói: “Không phải tranh đâu, đó là
gương đấy. Đó là hình ảnh của bà được phản chiếu qua gương đấy! Chớ nhận xét hồ
đồ!”. Người đàn bà quá xấu hổ đành bỏ ra về.
Đó cũng là cảnh mù loà đáng thương của nhiều người trong chúng
ta. Khi chúng ta phê bình chỉ trích người khác đang khi chính chúng ta vẫn còn
đó đầy những lỗi lầm. Khi chúng ta chê bai anh em đang khi chúng ta vẫn còn đó
những khuyết điểm và thói hư tật xấu. Chúng ta thường cắt nghĩa tốt về mình
nhưng lại quá hà khắc về lối sống của tha nhân. Chúng ta thường mù loà về bản
thân mình nhưng lại thích soi mói anh em. Đúng như cha ông ta vẫn nói:
“Chân mình còn lấm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người”.
Bài tin mừng hôm nay nói đến rất nhiều nhân vật nhưng chỉ có một
người là sáng mắt thực sự. Người có mắt sáng là người biết nhìn nhận sự việc
đúng sự thật. Người sáng mắt không lệch lạc về quan điểm, về sự việc. Người
sáng mắt biết nhận định đúng về những gì đang diễn ra chung quanh. Đó là anh mù
từ thuở mới sinh. Anh mù về thể xác nhưng sáng về tinh thần. Anh đã dám nhìn
nhận sự thật cho dù vì đó mà anh bị trục xuất khỏi cộng đoàn. Anh đã công khai
nói lên niềm tin của mình vào Đấng đã chữa lành cho anh. Cho dù anh gặp nhiều
sự chống đối, nhiều hiểm nguy nhưng anh vẫn phải nói đúng sự thật về những gì
đã diễn ra trong cuộc đời anh.
Nhưng tiếc thay nhiều người mắt sáng nhưng lại tối tâm hồn. Đó
là các biệt phái đầy kiêu căng đã không thể nhìn thấy quyền năng của Chúa đang
hiển thị trước mặt các ông. Đó là cha mẹ của anh mù vì sợ hãi đã lẩn trốn sự
thật, không dám nói đúng sự thật cũng đồng nghĩa chấp nhận mình mù loà giữa
đời. Người biệt phái vì lòng ghen ghét mà họ đã có cái nhìn lệch lạc về việc
làm của Chúa Giêsu. Cha mẹ anh mù vì cầu an nên thiếu trách nhiệm với con và
với người đã cứu con mình. Xem ra bệnh mù về tâm hồn có muôn vàn nguyên nhân
dẫn đến mù loà. Và xem ra bệnh mù thể xác thì ít hơn bệnh mù về tinh thần. Bởi
lẽ, mỗi một cách sống sai với lương tri con người đều được coi là căn bệnh mù
loà của tâm hồn. Chúng ta có thể nhìn thấy những triệu chứng cũng như nguyên do
của bệnh mù loà tâm hồn như sau:
Khi chúng ta quá ích kỷ dẫn đến không thấy nhu cầu của thân nhân
để cảm thông và giúp đỡ.
Khi chúng ta quá vô tâm nên không thấy nỗi đau của anh em mà
chính chúng ta đã gây nên cho họ.
Khi chúng ta quá lười biếng đến nỗi không còn thấy trách nhiệm
và bổn phận của mình với gia đình và xã hội.
Khi chúng ta quá bảo thủ và thành kiến nên không thấy điều hay,
điều tốt của tha nhân.
Khi vì phán đoán nông cạn, hời hợt làm chúng ta mù loà không
thấy những giá trị của người anh em và khiến ta hay lên án một cách hồ đồ,
thiếu công bình và bác ái.
Nhưng điều quan yếu hơn cả đối với các tín hữu trong Mùa Chay
không phải chỉ là nhìn nhận sự khuyết tật mù loà của mình đế sám hối canh tân,
đề cầu xin Chúa chữa lành mà còn phải có một đời sống đức tin như anh mù sau
khi được sáng mắt sáng lòng.
Đó là một đức tin đầy lạc quan, biết reo vui cảm tạ Thiên Chúa
vì những ơn đã lãnh nhận. Đó là một đức tin đầy can đảm, sẵn sàng trực diện với
những cạm bãy thù nghịch của những kẻ đồng đạo tội lỗi hay đã bị thoái hoá. Và
đó cũng còn là một đức tin vững vàng chấp nhận thiệt thòi cô đơn, vì dám làm
chứng cho ánh sáng giữa bóng tối tội lỗi, sa đoạ của trần đời hôm nay.
Nguyện xin Chúa là ánh sáng trần gian soi lối
cho chúng ta đi trong ánh sáng và chân lý. Xin cho chúng ta can đảm đoạn tuyệt
với bóng tối tội lỗi và chân thành sống theo ánh sáng của lề luật và tình
thương. Amen. [ ]
Ta nhìn thấy được là nhờ có ánh sáng. Đôi mắt là ánh sáng của
thân thể. Nếu mắt hư hỏng, thì dù bên ngoài trời có sáng trưng, ta vẫn không
thấy gì hết. Người bị hư mắt sống hoàn toàn trong đêm tối.
Có nhiều thứ đêm tối. Cũng như có nhiều loại mắt.
Có thứ đêm tối u mê dốt nát. Ánh sáng văn hoá có đó. Sách vở chữ nghĩa có
đó. Nhưng ta không đọc được. Vì ta mù chữ. Trí tuệ ta thiếu đôi mắt. Nên ta
chìm trong đêm tối u mê.
Có thứ đêm tối phàm phu. Thiên nhiên có biết bao cảnh đẹp. Nhìn cảnh
hoàng hôn, bình minh, người hoạ sĩ có thể xúc cảm vẽ nên những bức tranh tuyệt
tác. Ta không cảm được vẻ đẹp của đất trời vì ta không có cặp mắt hoạ sĩ. Nghe
chim ca, nhìn lá rụng, thi sĩ có thể viết nên những vần thơ. Còn ta, ta không
nghe được sứ điệp của chim, không cảm được nỗi buồn của lá, vì ta không có tâm
hồn, ánh mắt nhạy cảm của nhà thơ.
Có thứ đêm tối đức tin. Cuộc sống thần linh có đó. Thiên Chúa hiện
hữu đó. Nhưng ta không thấy được nếu ta không có đức tin.
Đức tin là ánh sáng soi rọi vào thế giới vô hình, cho ta thấy
được những điều mà người không tin không thấy. Đức tin là ngọn đèn soi cho ta
bước đi trên con đường tiến về cuộc sống vĩnh cửu. Ngọn đèn ấy chỉ đủ sáng cho
ta bước từng bước nhỏ. Trong khi bầu trời vẫn tối đen để ta phải phó thác tin
yêu.
Tin là một thái độ dấn thân. Người mù đi ra giếng Silôê rửa theo lời dạy
của Chúa Giêsu vì anh tin. Anh có thể nghi ngờ: Rửa nước giếng có gì tốt đâu?
Nhưng anh đã đi vì anh tin lời Chúa. Tin rồi anh không ngồi lì một chỗ nhưng
dấn thân, lên đường và hành động theo lời Chúa dạy.
Tin là một hành trình ngày càng gian khổ. Đức tin cần phải có thử thách. Thử thách như
những bài học ngày càng cao, càng khó bắt người tin phải có thái độ lựa chọn
ngày càng dứt khoát hơn. Ta hãy dõi theo hành trình của anh thanh niên bị mù.
Thoạt tiên, việc dẫn thân của anh khá dễ dàng. Anh chỉ việc đi
ra giếng Silôê rửa bùn đất mà Chúa Giêsu đã đắp lên mắt anh.
Kế đó anh phải đối phó với một tình hình phức tạp hơn: Người ta
nghi ngờ anh. Người ta tò mò xoi mói anh. Nhưng anh đã vững vàng vượt qua thử
thách đó. Anh dõng dạc tuyên bố: Chính tôi là người mù đã ăn xin tại cổng
thành.
Tình hình phức tạp hơn khi gia đình anh tỏ ra thờ ơ lãnh đạm.
Anh khá đau lòng và cảm thấy cô đơn. Anh được sáng mắt. Anh có niềm tin. Đó là
một biến cố quan trọng thay đổi toàn bộ đời anh. Thế mà những người thân thiết
nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình vẫn thờ ơ, lãnh đạm. Để vững niềm tin
vào Chúa, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc. Vì tin Chúa anh đành cam chịu
sự thờ ơ lãnh đạm của những người thân. Trung thành với niềm tin đã làm trái
tim anh rướm máu.
Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền
lực tôn giáo. Họ mạt sát anh là sinh ra trong tội lỗi. Họ tố cáo Chúa Giêsu đã
lỗi phạm luật nghỉ ngày Sabbat. Và sau cùng, họ khai trừ anh khỏi hội đường.
Đây là hình phạt nặng nề nhục nhã nhất đối với người Do Thái. Bị gia đình từ
bỏ. Giờ đây lại bị xã hội chối từ. Anh trở thành người cô đơn nhất. Đây là thử
thách lớn lao nhất. Nhưng anh vẫn vững vàng vượt qua. Lựa chọn của anh giờ đây
là dứt khoát. Mất tất cả chỉ để trung tín với niềm tin của mình.
Đúng lúc đau đớn nhất Chúa Giêsu lại xuất hiện. Như để khen
thưởng cho đức tin kiên vững của anh. Chúa Giêsu tỏ cho anh biết Người là Đấng
Cứu Thế, là Con Thiên Chúa. Lập tức anh quỳ sấp mặt xuống thờ lạy Người. Hành
trình niềm tin gian khổ thế là chấm dứt. Anh đã gặp được Chúa Kitô.
Như thế niềm tin tăng dần theo với thử thách. Thử thách càng
cao, đức tin càng mạnh. Thoạt tiên, anh coi Chúa Giêsu chỉ là một con người,
một người nào đó trong muôn vạn người: “Một người tên là Giêsu đã xức bùn vào mắt tôi”. Những câu hỏi của đám đông, những tra vấn
của Pharisêu khiến anh suy nghĩ sâu xa hơn và anh nhận rằng: “Ngài thật là vị tiên tri”. Khó khăn bắt bớ của giới chức tôn giáo thời đó
lại khiến anh khẳng định: “Người
từ Thiên Chúa mà đến”. Và sau cùng anh đã
nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
Đức tin giống như hạt ngọc bị lớp đất bụi che phủ. Những khó
khăn thử thách giống như chiếc dũa, dũa sạch bụi đá. Càng dũa nhiều, ngọc càng
sáng. Đức tin giống như ngọn đèn. Thử thách gian khổ là dầu. Càng có nhiều dầu
gian khổ, đèn đức tin càng toả sáng, càng toả nóng.
Hành trình đức tin của anh thanh niên mù chính là khuôn mẫu cho
hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Anh thanh niên mù đã chiến đấu với
những bóng tối vây phủ đức tin của anh. Anh đã kiên trì và đã chiến thắng. Anh
đã ra khỏi tối tăm, gặp được Chúa Kitô nguồn ánh sáng. Đời anh từ nay tràn ngập
ánh sáng niềm tin. Còn tôi, tôi đã chiến đấu thế nào với những thế lực bóng tối
đe doạ đức tin của tôi? Những bóng tối nghi kỵ, những bóng tối thù hận, những
bóng tối độc ác, những bóng tối tự mãn kiêu căng, những bóng tối dục vọng tội
lỗi. Tôi có can đảm chiến đấu để phá tan những bóng tối đó không?
Anh thanh niên mù đã giữ ngọn đèn đức tin khỏi mọi bão gió, lại
còn đổ dầu đầy bình, giữ cho đèn cháy sáng cho đến khi gặp Chúa Kitô. Ngày Rửa
Tội, Chúa đã trao cho tôi ngọn đèn đức tin. Biết bao ngọn gió đã thổi ngang đời
tôi, muốn dập tắt ngọn đèn đức tin của tôi. Liệu tôi có giữ được ngọn đèn đức
tin cháy sáng cho đến ngày ra gặp mặt Chúa?
Mùa Chay chính là cơ hội cho tôi khêu ngọn đèn đức tin cho sáng,
đổ dầu đầy bình cho ngọn đèn đức tin cháy mãi. Dầu, đó là sự ăn chay, cầu
nguyện, là thống hối, là hoà giải, là chia sẻ cho người túng thiếu.
Xin Chúa Kitô là ánh sáng trần gian dẫn con đi
suốt hành trình đức tin để con thoát mọi bóng tối, đến gặp Người là ánh sáng
tinh tuyền, ánh sáng vĩnh cửu.
GỢI Ý CHIA SẺ
1) Bạn đã từng bị thử thách về đức tin chưa? Bạn đã thắng vượt
như thế nào?
2) Từ khi được Rửa Tội đến nay, bạn có “biết” Chúa ngày càng rõ
hơn không?
3) Chúa đã tỏ mình ra cho bạn thế nào qua những thử thách trong
cuộc đời?
4) Anh thanh niên mù đã trải qua những khó khăn nào trong hành
trình đến gặp Chúa Giêsu?




Không có nhận xét nào: